LỊCH LÀM VIỆC

THÔNG TIN KHÁC

CÁC XÃ THỊ TRẤN THUỘC HUYỆN

VĂN BẢN PHÁP QUY

THĂM DÒ Ý KIẾN

Xin ý kiến về giao diện mới
Một số vấn đề cần lưu ý về chứng thực chữ ký
Ngày đăng 19/02/2020 | 08:58  | View count: 30

1. Chứng thực chữ ký trong giấy bán, cho, tặng xe

Theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 24 và khoản 4 Điều 25 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì giấy tờ, văn bản có nội dung là hợp đồng, giao dịch không được chứng thực chữ ký, trừ trường hợp Giấy ủy quyền đối với trường hợp ủy quyền không có thù lao, không có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền và không liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng bất động sản hoặc trường hợp pháp luật có quy định khác. Theo đó, giấy bán, tặng, cho xe của cá nhân vẫn được chứng thực chữ ký vì theo quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 10 Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ Công an quy định: “Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực”

Việc chứng thực chữ ký phải thực hiện theo quy định tại mục 2 Phần I Phụ lục mẫu lời chứng, mẫu sổ chứng thực ban hành kèm theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

Đồng thời, căn cứ vào Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc định đoạt tài sản chung mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu thì phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng. Do đó, trong giấy bán, cho, tặng xe thì phần bên bán, cho, tặng xe cần ghi đầy đủ thông tin và chữ ký của cả hai vợ chồng.

Như vậy, việc bán, cho, tặng xe của cá nhân có thể thực hiện theo hình thức chứng thực chữ ký trong giấy bán, cho, tặng xe. Hình thức này hoàn toàn phù hợp theo pháp luật hiện hành về chứng thực và thống nhất với quy định tại Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ Công an.

2. Chứng thực chữ ký trong sơ yếu lý lịch của cá nhân

So với Nghị định số 79/2007/NĐ-CP, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP đã thể hiện sự hoàn thiện hơn về nội dung này. Trước đây, Nghị định số 79/2007/NĐ-CP không có quy định về  việc chứng thực chữ ký trong tờ khai lý lịch của cá nhân, do đó, không có sự áp dụng thống nhất giữa các địa phương (có địa phương chứng thực chữ ký, có địa phương xác nhận hộ khẩu thường trú, có địa phương chứng thực nội dung sơ yếu lý lịch theo hướng chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước), ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của công dân, gây bất lợi cho công dân khi sử dụng sơ yếu lý lịch. Tuy nhiên, đến Nghị định số 23/2015/NĐ-CP, việc chứng thực chữ ký trên Sơ yếu lý lịch của cá nhân đã được quy định cụ thể tại điểm b khoản 4 Điều 24 và mục 2 Phần I Phụ lục mẫu lời chứng, mẫu sổ chứng thực ban hành kèm theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

Tuy nhiên, đối với trường hợp người yêu cầu chứng thực chữ ký trên bản Lý lịch tự khai dùng cho tuyển chọn người vào Công an nhân dân theo thì việc xác nhận lý lịch tự khai được thực hiện theo Luật Công an nhân dân năm 2018 và Thông tư số 04/2018/TT-BCA ngày 29/01/2018 của Bộ Công an quy định về thẩm tra lý lịch trong Công an nhân dân.

Đối với trường hợp người yêu cầu chứng thực chữ ký trên Sơ yếu lý lịch cá nhân phục vụ mục đích nộp hồ sơ đi làm việc ở nước ngoài nhưng bản thân đang trong thời gian chấp hành bản án hình sự thì cơ quan có thẩm quyền chứng thực không chứng thực chữ ký trên bản Sơ yếu lý lịch này. Vì, căn cứ Điều 21 Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17/8/2007 của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam; Điều 10 Luật cư trú năm 2006; Điều 87 Luật Thi hành hình sự năm 2019 thì các đối tượng có tên nêu trên chưa được phép xuất cảnh ra nước ngoài để làm việc. Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 25 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP, một trong những trường hợp không được chứng thực chữ ký là giấy tờ, văn bản mà người yêu cầu chứng thực chứ ký có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội. Theo đó, việc cơ quan có thẩm quyền chứng thực chữ ký trên bản Sơ yếu lý lịch có nội dung trái pháp luật là không đúng với quy định

3. Chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản được quy định trong pháp luật về hộ tịch

Những văn bản, giấy tờ có nội dung “cam đoan chưa kết hôn với ai; giấy xác nhận có nội dung như giấy khai sinh, giấy xác nhận là vợ chồng, giấy xác nhận bố/ mẹ/ vợ/ chồng chết …”. Mặc dù những giấy tờ này không thuộc quy định tại Điều 25 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP nhưng nội dung của văn bản là giấy tờ hộ tịch mà pháp luật quy định phải cấp theo mẫu như “Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân”, “Giấy khai sinh”, “Giấy chứng nhận kết hôn”, “Giấy khai tử” … thì cơ quan chứng thực không chứng thực chữ ký trên giấy tờ có nội dung như vậy mà thực hiện theo pháp luật về hộ tịch.

                                                                     Bùi Phượng

TIN TỨC NỔI BẬT

 

THÔNG TIN PHÁT NGÔN

 

 

PHẦN MỀM TÁC NGHIỆP

HỎI ĐÁP

LIÊN KẾT WEBSITE

THỜI TIẾT

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cập: 35
Tổng: 0