XÃ THƯỢNG MỖ

Xã Thượng Mỗ Thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, là một trong 16 xã, thị trấn của huyện Đan Phượng, nằm bên hữu ngạn sông Hồng, có 2 tuyến đê bao quanh ngăn lũ sông Hồng và sông Đáy. Cách trung tâm huyện Đan Phượng 3 km; Phía Bắc giáp xã Trung Châu, phía Đông giáp xã Hạ Mỗ; phía Nam giáp xã Tân Hội; phía Tây giáp các xã: Đan Phượng và Phương Đình.

Địa hình xã tương đối bằng phẳng, được hình thành từ trầm tích phù sa bồi đắp qua hàng triệu năm. Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 344,14 ha, trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 254 ha. Tính đến thời điểm năm 2015, toàn xã có 2076 hộ, với số khẩu là 9016 người, có 74 khẩu theo đạo Thiên chúa giáo. Xã có 8 thôn, chia làm 2 miền, miền Đồng (4 thôn) và miền Bãi (4 thôn). Xã có 2 đình, 4 chùa, 1 đền được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh.

Trước Cách mạng tháng Tám, Thượng Mỗ là 2 xã độc lập (Thượng Mỗ và Phù Trung), tục gọi Thượng Mỗ là Mỗ Thượng hay Mố Thượng, vào thời Lý thuộc huyện Vĩnh Khang, phủ Ứng Thiên; thời Trần thuộc huyện Vĩnh Thuận, phủ Hà Đông. Đầu thế kỷ 19, Thượng Mỗ và Phù Trung là 2 trong 6 xã thuộc tổng Thượng Hội, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Đầu thế kỷ 20, xã thuộc tổng Thượng Hội, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, đến nay xã Thượng Mỗ thuộc huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

Về tín ngưỡng tôn giáo, người Thượng Mỗ chủ yếu thờ cúng Tổ tiên và Phật giáo, một số ít theo Thiên chúa giáo. Người dân nơi đây luôn sống tương thân tương ái, sẵn sàng cưu mang đùm bọc lẫn nhau trong lúc gian nan, khi hoạn nạn, cho nên trải qua bao nhiêu trầm luân dâu bể mà trên đất Thượng Mỗ vẫn không hề xảy ra chuyện kỳ thị lương - giáo.

Thượng Mỗ còn nổi tiếng khắp vùng về làn điệu Ca trù. Nơi đây là cái nôi hát ca trù của vùng quê Đan Phượng. Theo thần tích và truyền thuyết dân gian, vào thế kỷ thứ 17, thời Lê Trung Hưng, trong dòng tộc Nguyễn Duy xuất hiện một người con gái kỳ tài tên gọi là Nguyễn Thị Hồng rất mực hiền thục, tư chất thông minh. Vốn con nhà gia thế nên từ nhỏ bà đã được cha mẹ cho theo học thầy đồ nổi tiếng họ Lưu. Bà rất giỏi thơ ca, lại hay nghề đàn hát, nhà trò (hay còn gọi là hát ả đào, hát ca trù) - một lối hát cung đình thanh tao, quý phái mà thời bấy giờ đều ngưỡng mộ. Bà được nhà vua sủng ái, phong Đệ nhị cung phi Hoàng hậu, phụ trách các phi tần, dạy lễ nhạc trong Nội Điện, đặc biệt là dạy hát ca trù. Khi mất, bà được an táng tại cánh đồng làng Thượng Mỗ. Nhân dân thương tiếc người phụ nữ tài sắc vẹn toàn, đã lập đền thờ bà bên Đầm Giếng. Cứ 3 năm một lần, vào ngày 2/3 Âm lịch – ngày hóa của bà, nhân dân địa phương lại tổ chức lễ tế trọng thể tại Đền để tưởng nhớ công đức của bà. Bài văn tế "Đệ nhị cung phi" cùng cuốn thần tích được trân trọng, giữ gìn.

Kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc, dòng họ Nguyễn ở Thượng Mỗ vẫn luôn giữ gìn nghiệp tổ. Nghệ sỹ nhân dân Thương Huyền, người hát ca trù đầu tiên của Đài tiếng nói Việt Nam là người sinh ra tại Thượng Mỗ. Gia đình Nghệ nhân Nguyễn Thị Tam có ba, bốn thế hệ ca trù phục vụ nhân dân địa phương, tham gia liên hoan văn nghệ được tặng nhiều danh hiệu. Xã Thượng Mỗ đã thành lập câu lạc bộ ca trù để duy trì và phát huy vốn văn nghệ dân gian quý giá, xứng đáng với quê hương "Bà chúa ca trù". Câu lạc bộ đã được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam công nhận là địa chỉ Văn hóa dân gian năm 2004.

Truyền thống yêu nước, ý chí tự lực tự cường của nguời dân Thượng Mỗ bắt nguồn từ nền tảng của dân tộc. Lòng yêu nước đã trở thành động lực tinh thần vô cùng mạnh mẽ, thúc đẩy bao thế hệ người dân Thượng Mỗ kiên cường, dũng cảm hy sinh để giành lại và bảo vệ độc lập của quê hương, đất nước. Dưới thời Phong kiến, nhiều lần các toán cướp vào làng quấy nhiễu, các cụ Đoàn Tổng, Cai Già, Bếp Lái đã tập hợp dân làng đánh đuổi. Nhiều người con của quê hương tham gia cuộc đấu tranh giành chính quyền và hy sinh anh dũng trong trong các cuộc chiến tranh chống Pháp-Mỹ và bảo vệ biên giới như: Nguyễn Khắc Xuyên, Hoàng văn Hồng, Phan Văn Duyệt, Đỗ Văn Cẩn, Hoàng văn Mỡi…Đến nay, xã có 14 Bà mẹ Việt Nam Aanh hùng, 44 thương bệnh binh, 88 liệt sỹ là những minh chứng xác thực nhất cho tinh thần anh dũng, ý chí đấu tranh vì độc lập dân tộc của nhân dân xã Thượng Mỗ.

Từ xưa đến nay, người dân nơi đây vốn có truyền thống lao động cần cù và sáng tạo. Nông nghiệp ở Thượng Mỗ phát triển khá mạnh, nhiều mô hình sản xuất mới được ứng dụng và phát triển tại đây như: VAC, mô hình trồng rau an toàn, nấm sạch, cam canh, bưởi tôm vàng… phát triển và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Bên cạnh đó, một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại cũng bắt đầu phát triển như: nghề mộc, dệt may, cơ khí, sản xuất đồ dùng học sinh…đã giải quyết được vấn đề việc làm cho nhiều người.

Nhìn lại chặng đường lịch sử kể từ sau ngày quê hương giải phóng, trước bao khó khăn thử thách, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Huyện ủy Đan Phượng và sự quan tâm giúp đỡ của các cấp các ngành, Đảng bộ và nhân dân xã Thượng Mỗ không ngừng phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, đoàn kết chặt chẽ, hăng hái thi đua, chung sức chung lòng hàn gắn vết thương chiến tranh để xây dựng và phát triển quê hương. Sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, Đảng bộ và nhân dân xã Thượng Mỗ đã có những bước phát triển toàn diện, chính trị ổn định, kinh tế không ngừng được tăng trưởng, nông thôn luôn được đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên, văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, quốc phòng - an ninh được giữ vững; Đảng bộ, chính quyền, mặt trận và các hội đoàn thể luôn là đơn vị vững mạnh; xã đạt chuẩn Nông thôn mới năm 2014. Thành quả đó cũng là tiền đề hết sức quan trọng để Đảng bộ và nhân dân trong xã tiếp tục đem hết sức mình phấn đấu xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, tiếp tục nâng cao chất lượng chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới trong những năm tiếp theo.

Các chức danh lãnh đạo xã:

Nguyễn Văn Hùng

Bí thư Đảng ủy–Chủ tịch HĐND

0978885737, danguyxathuongmo@gmail.com

Nguyễn Tuấn Anh

Chủ tịch UBND

0975950666

ctxtm_danphuong@gmail.com